KHẢO SÁT KIẾN THỨC VỀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH SAU ĐỘT QUỴ NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC NGỌC HỒI NĂM 2026
KHẢO SÁT KIẾN THỨC VỀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH SAU ĐỘT QUỴ NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC NGỌC HỒI NĂM 2026
KHẢO SÁT KIẾN THỨC VỀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH SAU ĐỘT QUỴ NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC NGỌC HỒI NĂM 2026
Tác giả: Nguyễn Văn Nam, Nông Văn Vinh, Nguyễn Thu Trang, Nguyễn Trọng Hùng, Trần Thị Thanh Trà
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát kiến thức về phục hồi chức năng (PHCN) vận động và xác định một số yếu tố liên quan ở người bệnh sau đột quỵ não tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Hồi năm 2026.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 177 người bệnh sau đột quỵ. Kiến thức được đánh giá bằng 10 câu hỏi, mỗi câu đúng 1 điểm, tổng 0–10; ≥7 điểm là có kiến thức. Phân tích mối liên quan bằng OR, KTC 95% và p.
Kết quả: Nhóm >60 tuổi chiếm 51,4%; nam 50,8%; đột quỵ thiếu máu não 83,1%. Tỷ lệ biết đúng về thời điểm bắt đầu PHCN 63,3%; mục đích 32,2%; nguyên tắc 30,5%; hình thức/bài tập 46,9%; phòng biến chứng và an toàn 54,2%; tiếp tục PHCN sau xuất viện 61,6%. Chỉ 28,2% đạt kiến thức chung. Dân tộc và nghề nghiệp liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức (p<0,001).
Kết luận: Kiến thức PHCN vận động còn hạn chế, nhất là mục đích và nguyên tắc tập luyện. Cần tăng cường giáo dục sức khỏe, hướng dẫn cá thể hóa và hỗ trợ PHCN sau xuất viện.
Từ khóa: Đột quỵ não; phục hồi chức năng vận động; kiến thức; người bệnh.
ABSTRACT
Objective: To assess knowledge of motor rehabilitation and associated factors among stroke patients at Ngoc Hoi Regional General Hospital in 2026.
Methods: A cross-sectional study was conducted among 177 post-stroke patients. Knowledge was assessed using 10 questions, scored 0–10; ≥7 indicated adequate knowledge. Associations were assessed using OR, 95% CI and p-values.
Results: Patients aged >60 years accounted for 51.4%, males 50.8%, and ischemic stroke 83.1%. Correct knowledge was 63.3% for early rehabilitation, 32.2% for rehabilitation purposes, 30.5% for principles, 46.9% for exercises, 54.2% for prevention and safety, and 61.6% for continuation after discharge. Overall adequate knowledge was 28.2%. Ethnicity and occupation were significantly associated with knowledge (p<0.001).
Conclusion: Knowledge of motor rehabilitation was limited, particularly regarding purposes and principles. Individualized education and post-discharge support should be strengthened.
Keywords: Stroke; motor rehabilitation; knowledge; patients.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đột quỵ não là nguyên nhân quan trọng gây tử vong và tàn tật; rối loạn vận động là di chứng thường gặp, ảnh hưởng đến tự chăm sóc, sinh hoạt và chất lượng cuộc sống. PHCN vận động là thành phần thiết yếu của điều trị toàn diện, giúp cải thiện chức năng và phòng biến chứng.
PHCN cần được bắt đầu sớm khi người bệnh ổn định, phù hợp với tình trạng lâm sàng và duy trì liên tục. Winstein và cộng sự nhấn mạnh mục tiêu chức năng, phối hợp đa ngành và giáo dục người bệnh; Lang và cộng sự lưu ý vai trò của lượng thực hành và thời điểm; Jones và Riazi nhấn mạnh tự quản lý và tự hiệu quả.
Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Hồi chưa có nghiên cứu hệ thống về kiến thức PHCN vận động ở người bệnh sau đột quỵ. Nghiên cứu nhằm: (1) khảo sát kiến thức; (2) xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức chung.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng là người bệnh sau đột quỵ đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Hồi, có khả năng trả lời và đồng ý tham gia. Nghiên cứu mô tả cắt ngang, định lượng, thực hiện tại các khoa Phục hồi chức năng, Nội tổng hợp và Y-Dược cổ truyền, từ tháng 4 đến tháng 10/2026.
Cỡ mẫu tối thiểu 130 người, tính với p=0,429, d=0,08 và Z=1,96; thực tế phân tích 177 người bệnh.
Công cụ gồm thông tin chung, đặc điểm lâm sàng và 10 câu hỏi kiến thức về thời điểm bắt đầu PHCN, mục đích, tính liên tục, nguyên tắc, vận động thụ động, chủ động có trợ giúp, thăng bằng/dáng đi, phòng biến chứng, an toàn và PHCN sau xuất viện. Mỗi câu đúng 1 điểm; ≥7/10 là có kiến thức.
Số liệu được trình bày bằng tần số, tỷ lệ; mối liên quan sử dụng OR, KTC 95% và p<0,05. Người bệnh được giải thích, tự nguyện tham gia và bảo mật thông tin.
3. KẾT QUẢ
3.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỐI TƯỢNG
Đặc điểm | n | % |
≤40 tuổi | 25 | 14,1 |
41–60 tuổi | 61 | 34,5 |
>60 tuổi | 91 | 51,4 |
Nam | 90 | 50,8 |
Nữ | 87 | 49,2 |
Lao động chân tay | 130 | 73,4 |
Lao động trí óc | 34 | 19,2 |
Hưu trí | 12 | 6,8 |
HS/SV | 1 | 0,6 |
Kinh | 50 | 28,2 |
Dân tộc khác | 127 | 71,8 |
Nhận xét: Người bệnh >60 tuổi chiếm cao nhất (51,4%); nam và nữ tương đối cân bằng. Phần lớn là lao động chân tay và thuộc dân tộc khác Kinh.
Đặc điểm lâm sàng | n | % |
Đột quỵ thiếu máu não | 147 | 83,1 |
Xuất huyết não | 30 | 16,9 |
Glasgow 9–12 | 24 | 13,6 |
Glasgow ≥13 | 153 | 86,4 |
Tự vận động | 67 | 37,9 |
Vận động có trợ giúp | 54 | 30,5 |
Không vận động được | 56 | 31,6 |
Yếu liệt phải | 92 | 52,0 |
Yếu liệt trái | 85 | 48,0 |
Nhận xét: Đa số bị đột quỵ thiếu máu não và Glasgow ≥13. Có 62,1% cần trợ giúp hoặc không tự vận động được, cho thấy nhu cầu hướng dẫn người chăm sóc và cá thể hóa PHCN.
3.2. KIẾN THỨC VỀ PHCN VẬN ĐỘNG
Nội dung | Biết đúng n (%) | Chưa đầy đủ n (%) | Không biết n (%) |
Thời điểm bắt đầu PHCN | 112 (63,3) | 35 (19,8) | 30 (16,9) |
Mục đích PHCN | 57 (32,2) | 32 (18,1) | 88 (49,7) |
Nguyên tắc PHCN | 54 (30,5) | 46 (26,0) | 77 (43,5) |
Hình thức/bài tập | 83 (46,9) | 44 (24,9) | 50 (28,2) |
Phòng biến chứng, an toàn | 96 (54,2) | 39 (22,0) | 42 (23,7) |
Tiếp tục sau xuất viện | 109 (61,6) | 38 (21,5) | 30 (16,9) |
Nhận xét: Kiến thức cao nhất ở thời điểm bắt đầu PHCN (63,3%) và tiếp tục PHCN sau xuất viện (61,6%); thấp nhất ở mục đích (32,2%) và nguyên tắc (30,5%).
Mức độ kiến thức | n | % |
Có kiến thức (≥7/10) | 50 | 28,2 |
Chưa có kiến thức (<7/10) | 127 | 71,8 |
Tổng | 177 | 100,0 |
Nhận xét: Chỉ 28,2% đạt kiến thức chung, trong khi 71,8% chưa đạt.
3.3. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Yếu tố | Tỷ lệ đạt | OR (95%CI) | p |
Giới: nữ/nam | 26,4/30,0% | 0,84 (0,44–1,62) | 0,620 |
Dân tộc: khác/Kinh | 19,7/50,0% | 0,25 (0,12–0,50) | <0,001 |
Tuổi: 41–60/≤40 | 29,5/32,0% | 0,89 (0,33–2,43) | 0,827 |
Tuổi: >60/≤40 | 26,4/32,0% | 0,76 (0,29–1,99) |
|
Nghề: trí óc/chân tay | 41,2/19,2% | 2,94 (1,31–6,61) | <0,001 |
Nghề: hưu trí/chân tay | 83,3/19,2% | 21,00 (4,33–101,92) | <0,001 |
Nhận xét: Dân tộc và nghề nghiệp có liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức chung. Không ghi nhận liên quan có ý nghĩa với giới và tuổi; trình độ học vấn cũng không có ý nghĩa thống kê (p=0,901)..
4. BÀN LUẬN
Nhóm >60 tuổi chiếm 51,4%, phù hợp với đặc điểm đột quỵ thường gặp ở người lớn tuổi. Đáng chú ý, 31,6% người bệnh không vận động được và 30,5% cần trợ giúp, cho thấy vai trò quan trọng của người chăm sóc trong chương trình PHCN.
Tỷ lệ biết đúng về thời điểm bắt đầu PHCN đạt 63,3%, cao nhất trong các nội dung. Kết quả phù hợp với quan điểm PHCN nên bắt đầu sớm khi an toàn. Tuy nhiên, Bernhardt và cộng sự lưu ý cần cân nhắc thời điểm và liều lượng, không đồng nghĩa “càng sớm càng nhiều”.
Kiến thức về mục đích (32,2%) và nguyên tắc (30,5%) thấp nhất. Điều này cho thấy người bệnh có thể biết cần tập nhưng chưa hiểu rõ mục tiêu và cách tập. Winstein và cộng sự nhấn mạnh PHCN cần có mục tiêu chức năng và phối hợp người bệnh, gia đình, nhóm chuyên môn; Jones và Riazi nhấn mạnh tự quản lý và tự hiệu quả.
Kiến thức về hình thức/bài tập đạt 46,9%. Lang và cộng sự cho thấy lượng thực hành có liên hệ với kết quả phục hồi, nhưng liều lượng cần phù hợp với thời điểm và khả năng. Do đó, hướng dẫn nên gắn với thực hành, làm mẫu và kiểm tra người bệnh thực hiện lại.
Kiến thức về phòng biến chứng và an toàn đạt 54,2%. Vẫn còn gần một nửa chưa đầy đủ, do đó cần nhấn mạnh thay đổi tư thế, vận động phù hợp, phòng cứng khớp, teo cơ, loét tì đè, té ngã và xử trí khi có dấu hiệu bất thường.
Có 61,6% biết cần tiếp tục PHCN sau xuất viện. Đây là kết quả tương đối tích cực nhưng 38,4% còn chưa đầy đủ. Cần cung cấp kế hoạch tập luyện tại nhà rõ ràng và hướng dẫn người chăm sóc.
Chỉ 28,2% đạt kiến thức chung, cho thấy khoảng trống kiến thức đáng kể. Khi so sánh với nghiên cứu khác cần thận trọng vì công cụ và tiêu chí đánh giá có thể khác nhau.
Dân tộc và nghề nghiệp liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức. Nhóm dân tộc khác có OR=0,25 so với Kinh; nhóm lao động trí óc và hưu trí có OR lần lượt 2,94 và 21,00 so với lao động chân tay. Đây là các mối liên quan, không chứng minh quan hệ nhân quả; nhóm nhỏ làm ước lượng kém ổn định. Không ghi nhận liên quan có ý nghĩa với giới, tuổi và học vấn trong mẫu này.
5. KẾT LUẬN
1. Kiến thức PHCN vận động còn hạn chế: 28,2% đạt và 71,8% chưa đạt.
2. Tỷ lệ biết đúng cao nhất ở thời điểm bắt đầu PHCN (63,3%) và tiếp tục PHCN sau xuất viện (61,6%); thấp nhất ở mục đích (32,2%) và nguyên tắc (30,5%).
3. Dân tộc và nghề nghiệp có liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức chung (p<0,001). Chưa ghi nhận liên quan có ý nghĩa với giới, tuổi và trình độ học vấn.
6. KHUYẾN NGHỊ
Bệnh viện cần xây dựng nội dung giáo dục PHCN thống nhất, tăng cường tài liệu trực quan và hướng dẫn trước xuất viện. Khoa lâm sàng và PHCN cần ưu tiên mục đích, nguyên tắc, cách tập và an toàn; hướng dẫn cá thể hóa theo khả năng vận động. Điều dưỡng và kỹ thuật viên nên áp dụng phương pháp giải thích – làm mẫu – người bệnh thực hiện lại – sửa sai. Người chăm sóc cần được hướng dẫn cùng tham gia, đặc biệt với người bệnh hạn chế vận động. Người bệnh cần duy trì PHCN theo hướng dẫn và báo nhân viên y tế khi có dấu hiệu bất thường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Y tế (2020). Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ.
2. Bộ Y tế (2020). Hướng dẫn phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ.
3. Jones F, Riazi A. (2011). Self-efficacy and self-management after stroke: a systematic review. Disability and Rehabilitation, 33(10), 797–810.
4. Winstein CJ, Stein J, Arena R, et al. (2016). Guidelines for Adult Stroke Rehabilitation and Recovery. Stroke, 47(6), e98–e169.
5. Lang CE, Lohse KR, Birkenmeier RL. (2015). Dose and timing in neurorehabilitation: prescribing motor therapy after stroke. Current Opinion in Neurology, 28(6), 549–555.
6. Bernhardt J, English C, Johnson L, Cumming TB. (2015). Early mobilization after stroke: early adoption but limited evidence. Stroke, 46(4), 1141–1146.
7. Orem DE. (2001). Nursing: Concepts of Practice. 5th ed. Mosby, St. Louis.
8. Nguyễn Hoa Ngần (2018). Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành về phục hồi chức năng của người bệnh sau đột quỵ não tại thành phố Thái Nguyên.



